Lập Dàn Ý và Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối năm 2019

Hướng Dẫn Lập Dàn Ý và Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối năm 2019. Bài Văn Phân Tích Chiều Tối Hay Nhất Của Học Sinh Giỏi Lớp 11 năm 2019.

 

Lập Dàn Ý và Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối năm 2019

I. Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ Chiều Tối

1, Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và phong cách, đặc điểm thơ Người: là một vị lãnh tụ vĩ đại, cha già của dân tộc.

– Giới thiệu về bài thơ Chiều tối: là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Người: sự chuyển dịch từ bóng tối ra ánh sáng.

2, Thân bài

a, Hai câu thơ đầu:

Hai câu thơ tả cảnh

+ Hình ảnh cánh chim: là một hình ảnh ước lệ quen thuộc trong thơ cổ, báo hiệu trời sắp tối những đàn chim bay về tổ.

+ Hình ảnh chòm mây: là một hình ảnh thơ cổ điển, gợi cho ta thấy sự mênh mông, bất tận của thiên nhiên, cảnh vật. “Cô vân”: là hình ảnh chòm mây đơn lẻ, cô độc giữa bầu trời, vũ trụ bao la. Từ láy “ mạn mạn” : chỉ sự chậm chậm, trôi nổi, lững lờ.

– Từ đó cho thấy, hai câu thơ trên đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà qua việc sử dụng hình ảnh cổ điển và bút pháp chấm phá. Qua đó, đã khắc họa một cách sâu sắc tình yêu của nhân vật trữ với thiên nhiên, luôn lạc quan vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt và khát vọng tự do.

b, Hai câu còn lại:

Xuất hiện hình ảnh cô em xóm núi đang trong tư thế lao động: Gợi lên sự khỏe khoắn, tràn đầy sức sống, đập tan đi – sự tĩnh lặng của cảnh vật thiên nhiên buổi chiều tà.

– Nhà thơ sử dụng điệp ngữ “ma bao túc” gợi lên sự chuyển động theo vòng không ngừng nghỉ của chiếc cối xay, cho thấy cô gái lao động rất siêng năng, chăm chỉ.

– Chữ “ hồng” xuất hiện trong bài thơ được xem như là “ nhãn tự”, “con mắt thơ” của bài thơ nó tạo nên một sức sống tràn đầy, mãnh liệt và luôn tin và một ngày mai tươi sáng tốt đẹp hơn.

– Hai câu thơ có sự chuyển đổi cảnh vật từ bóng tối ra ánh sáng.

3, Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung: Bài thơ đã thể hiện tâm hồn hết đỗi yêu thương đối với thiên nhiên và con người. Đồng thời thể hiện ý chí, nghị lực nhân cách cao đẹp và tinh thần thép của Người.

– Khái quát lại giá trị nghệ: Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của Hồ Chí Minh – một sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện đại và cổ điển.

II. Bài Văn Phân Tích Chiều Tối – Hồ Chí Minh

1, Mở bài

     Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già của dân tộc, một người anh hùng kiệt xuất đã giải phóng dân tộc Việt Nam. Người vừa là chiến sĩ vừa là thi sĩ, người cũng là một nhà văn xuất sắc, trong thơ của người luôn có sự hài hòa giữa bút pháp hiện đại và cổ điển. Và bài thơ “ Chiều tối” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Người.

2, Thân bài

     Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh thiên nhiên lúc chiều tà:

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô lâm mạn mạn độ thiên không

(Chim mỏi về rừng từng chốn ngủ

      Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)

     Hai câu thơ đầu mở ra một hình ảnh thiên nhiên tĩnh lặng, mênh mông đến vô tận qua bút pháp chấm phá cùng với việc sử dụng hình ảnh cổ điển. Hình ảnh cánh chim là một hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ, chúng ta cũng đã bắt gặp hình ảnh cánh chim trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” nhưng điểm khác biệt trong thơ Bác với thơ cổ là hình ảnh cánh chim được cảm nhận từ bên trong “mệt mỏi” ngoại cảnh nhưng cũng chính là tâm cảnh, cánh chim đồng điệu với tâm hồn Bác: cánh chim sau một ngày sải đôi cánh thì cũng đến lúc tìm chốn ngủ còn Bác cũng đã mệt sau một ngày dài sải bước. Không chỉ vậy, bức tranh thiên nhiên buổi chiều tà còn hiện ra với hình ảnh chòm mây “ cô vân” là một hình ảnh thơ cổ điển kết hợp với từ láy “mạn mạn” đã diễn tả sự cô đơn, lẻ loi, trôi chậm, hững hờ của chòm mây. Qua đó, cho thấy hai câu thơ trên với bút pháp chấm phá và việc sử dụng hình ảnh trong thơ cổ điển đã gợi lên một không gian thiên nhiên mênh mông bát ngát và đồng thời hiện lên hình ảnh nhân vật trữ tình yêu thiên nhiên, luôn lạc quan vượt qua mọi khó khăn, khắc nghiệt của hoàn cảnh và khát khao được tự do. Phải là một con người yêu thiên nhiên, cuộc sống tha thiết, tinh thần vượt lên mọi khó khăn khắc nghiệt của hoàn cảnh mới có thể viết lên được bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà như vậy.

     Nếu như hai câu thơ đầu, nhà thơ tập trung vào miêu tả hình ảnh thiên nhiên để vẽ nên một bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều tà bằng hình ảnh thơ cổ điển thì hai câu thơ cuối của bài thơ, Bác lại sử dụng bút pháp hiện đại để miêu tả, khắc họa vẻ đẹp, hình ảnh con người:

“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”

 (Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng)

     Giữa không gian bao la, rộng lớn của thiên nhiên ấy xuất hiện hình ảnh cô gái đang trong tư thế lao động, khỏe khoắn thật đẹp đã làm vơi đi sự cô quạnh của thiên nhiên nơi xóm núi. Nhà thơ đã sử dụng điệp từ “ma bao túc”(xay ngô tối) gợi lên sự chuyển động theo vòng không ngừng nghỉ của chiếc cối xay, cho thấy cô gái lao động rất siêng năng, chăm chỉ với công việc và qua đó cũng làm nổi bật lên tâm hồn nhân cách cao đẹp của Người: Bác luôn dành cho người lao động một tình yêu, sự quan tâm sâu sắc. Thêm vào đó, nhà thơ đã sử dụng chữ “hồng” ở câu cuối của bài thơ đó chính là “nhãn tự”, “con mắt thơ” của cả bài thơ. Chữ “hồng” đã có sức ảnh hưởng lớn đến bài thơ, chữ “ hồng” không chỉ đã xua đi được sự lạnh lẽo, hiu hắt nơi xóm núi lúc chiều tà mà còn làm hiện lên được sức sống, niềm tin vào ngày mai tươi sáng của Bác. Ánh sáng ấy cũng chính là niềm khát khao mơ ước của Bác cho dân tộc sẽ có ngày được độc lập, tự do. Và chữ “hồng” cho thấy sự chuyển động của bài thơ từ bóng tối qua ánh sáng cũng như tâm hồn của Người vậy, dù trong hoàn cảnh như thế nào nhân cách vẫn sáng ngời.

3. Kết bài

     Bài thơ Chiều tối với việc sử dụng các hình ảnh thơ cổ cùng với bút pháp chấm phá, từ ngữ cô đọng, hàm súc đã khắc họa một thiên nhiên lúc chiều tà và hình ảnh con người lao động hăng say, cũng như nổi bật lên niềm tin lạc quan của Bác vào tương lai. Đồng thời, qua đó bài thơ cũng đã thể hiện đặc điểm thơ Người – sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại.

BÌNH LUẬN FACEBOOK

bình luân

Liên kết được trả phí